Kiến thức cơ bản về phân tích kỹ thuật Kiến thức phân tích kỹ thuật từ cơ bản đến nâng cao

Lý thuyết sóng Elliott từ cơ bản đến nâng cao

1. Giới thiệu về nguyên lý sóng

Nguyên lý sóng Elliott là một hình thức của phân tích kỹ thuật mà một số nhà đầu tư sử dụng để phân tích các chu kỳ thị trường tài chính và dự báo các xu hướng thị trường bằng cách xác định các thái cực trong tâm lý nhà đầu tư, các mức cao và thấp trong giá và các yếu tố tập thể. Ralph Nelson Elliott (1871-1948), một kế toán viên chuyên nghiệp, phát hiện ra các nguyên lý xã hội cơ bản và phát triển các công cụ phân tích trong những năm 1930. Ông đề xuất rằng giá cả thị trường diễn ra trong những hình mẫu cụ thể, mà ngày nay những người thực hành gọi là sóng Elliott, hoặc chỉ đơn giản là sóng.

Elliott xuất bản lý thuyết của ông về hành vi thị trường trong cuốn sách The Wave Principle vào năm 1938, tổng kết nó trong một loạt các bài viết trong tạp chí Financial World năm 1939, và đề cập toàn diện nhất trong tác phẩm lớn cuối cùng của mình, Nature’s Laws: The Secret of the Universe vào năm 1946. Elliott nói rằng “vì con người lệ thuộc vào chuỗi hành động mang tính nhịp điệu, các tính toán phải thực hiện với các hoạt động của mình có thể được dự đoán ​​xa vào tương lai với sự căn chỉnh và độ chắc chắn không thể đạt được cho tới nay”. Giá trị thực nghiệm của Nguyên lý sóng Elliott vẫn còn là đề tài tranh luận.

2. Chu trình hoàn chỉnh của sóng Elliott

Nguyên lý sóng Elliott thừa nhận tâm lý đầu tư tập thể, hoặc tâm lý đám đông. Tâm lý đó di chuyển qua lại giữa lạc quan và bi quan theo các trình tự tự nhiên. Những thay đổi tâm trạng này tạo ra các hình mẫu được chứng minh trong các biến động giá của các thị trường ở mọi cấp độ xu hướng hoặc quy mô thời gian.

Trong mô hình của Elliott, giá cả thị trường thay thế giữa một giai đoạn “vận động”, và một giai đoạn “điều chỉnh” trên tất cả các quy mô thời gian của xu hướng, như hình minh hoạ. Các sóng vận động được chia nhỏ thành một tập hợp gồm 5 sóng cấp độ thấp hơn, xen kẽ giữa tính vận động và điều chỉnh. Do đó sóng 1, sóng 3, sóng 5 là thúc đẩy, và sóng 2, sóng 4 là các thoái lui nhỏ hơn của sóng 1 và sóng 3. Còn các sóng điều chỉnh được chia nhỏ thành 3 sóng cấp độ nhỏ hơn (sóng a, sóng b và sóng c) bắt đầu với một xung xu hướng trái ngược với sóng 5. Trong một thị trường gấu với xu hướng chủ đạo là đi xuống, mẫu hình bị đảo ngược: năm sóng xuống và ba sóng lên. Các sóng vận động luôn luôn di chuyển với xu hướng, trong khi các sóng điều chỉnh di chuyển chống lại nó.

chu trinh 5 song van dong và 3 song dieu chinh cua mo hinh song elliott
Chu trình 5 sóng vận động và 3 sóng điều chỉnh
Các quy tắc đối với sóng Elliott

Một sóng Elliott chính xác phải tuân thủ theo 3 quy tắc:

  • Sóng 2 luôn thoái lui ít hơn 100% của sóng 1.
  • Sóng 3 không bao giờ là ngắn nhất trong số các sóng vận động (sóng 1, sóng 3 và sóng 5).
  • Sóng 4 không chồng chéo vào khu vực giá của sóng 1, ngoại trừ trường hợp hiếm hoi của một tam giác đường chéo.
3 quy tac de xac dinh chinh xac song elliott
3 quy tắc để xác định chính xác sóng Elliott
Các đặc điểm cần lưu ý khi xác định sóng Elliott
  • Khi sóng 3 là sóng dài nhất, sóng 5 sẽ xấp xỉ với sóng 1.
  • Cấu tạo sóng 2 và sóng 4 sẽ thay thế nhau: nếu sóng 2 là sóng hiệu chỉnh phức tạp & mạnh (sharp) thì sóng 4 sẽ hiệu chỉnh đơn giản & phẳng (fiat), và ngược lại.
  • Sau 5 sóng đẩy tăng, sóng hiệu chỉnh (A, B, C) thường kết thúc tại vùng đáy của sóng 4 trước đó.
3 dac diem can luu y khi xac dinh song elliott
3 đặc điểm cần lưu ý khi xác định sóng Elliott
Các cấp độ của sóng Elliott

Các mô hình sóng Elliott có quy mô lớn – nhỏ đan xen nhau và được phân loại theo các cấp độ. Hầu hết các cấp độ thấp hơn có chu kỳ ba sóng được lý tưởng hóa. Trong chuỗi năm sóng nhỏ đầu tiên, sóng 1, sóng 3 và sóng 5 là sóng vận động, trong khi sóng 2 và sóng 4 là sóng điều chỉnh. Điều này báo hiệu rằng vận động của sóng cao hơn một cấp độ là đi lên. Nó cũng báo hiệu sự bắt đầu của chuỗi ba sóng nhỏ điều chỉnh đầu tiên. Sau 5 sóng lên ban đầu và ba sóng xuống, chuỗi này lại bắt đầu một lần nữa và hình thành một chuỗi mới tương tự chuỗi trước đó theo cấu trúc 5 và 3 sóng mà nó nằm dưới một cấp độ cao hơn. Các mẫu hình vận động hoàn chỉnh bao gồm 89 sóng, theo sau là một mẫu hình điều chỉnh hoàn chỉnh 55 sóng.

hinh mau hoan chinh cua song elliott
Hình mẫu hoàn chỉnh của sóng Elliott

Elliott phân biệt các cấp độ sóng từ sóng nhỏ nhất trên biểu đồ hàng giờ đến sóng lớn nhất mà chúng ta có thể thấy từ những dữ liệu có sẵn. Các cấp độ của sóng Elliott được liệt kê và ký hiệu như sau:

Cấp độ Sóng vận động Sóng điều chỉnh Chu kỳ
Grand Supercycle [I] [II] [III] [IV] [V] [A] [B] [C] Nhiều thế kỷ
Supercycle (I) (II) (III) (IV) (V) (A) (B) (C) Nhiều thập kỷ
Cycle I II III IV V A B C Một năm đến vài năm
Primary I II III IV V A B C Vài tháng đến vài năm
Intermediate [2] [2] [3] [4] [5] [a] [b] [c] Vài tuần đến vài tháng
Minor (1) (2) (3) (4) (5) (a) (b) (c) Vài tuần
Minute 1 2 3 4 5 a b c Vài ngày
Minuette 1 2 3 4 5 a b c Vài giờ

3. Các đặc điểm của sóng Elliott

Các nhận định dưới đây được giả định trong một thị trường “bò”. Các đặc điểm áp dụng ngược lại trong thị trường “gấu”.

Mẫu hình 5 sóng (xu hướng vận động) Mẫu hình 3 Sóng (xu hướng điều chỉnh)
Sóng 1: Sóng 1 hiếm khi rõ ràng ngay từ đầu. Khi sóng đầu tiên của một thị trường bò mới bắt đầu, những tin tức cơ bản là hầu như tiêu cực. Xu hướng trước đó được coi là vẫn còn hiệu lực mạnh mẽ. Các nhà phân tích cơ bản tiếp tục dự báo giá sẽ xuống thấp hơn; nền kinh tế có thể trông không mạnh mẽ. Các điều tra cảm tính quả quyết là giảm giá. Khối lượng có thể tăng một chút khi giá tăng lên, nhưng không đủ để cảnh báo một số nhà phân tích kỹ thuật. Sóng A: Các điều chỉnh thường khó xác định hơn so với các xung di chuyển. Trong sóng A của một thị trường gấu, những tin tức cơ bản thường là vẫn tích cực. Hầu hết các nhà phân tích xem việc rớt giá như là một sự điều chỉnh trong một thị trường bò vẫn còn hoạt động. Một số chỉ số kỹ thuật đi kèm với sóng A bao gồm khối lượng tăng lên.
Sóng 2: Sóng 2 điều chỉnh sóng 1, nhưng không bao giờ có thể mở rộng vượt ra ngoài điểm khởi đầu của sóng 1. Thông thường, tin tức vẫn còn xấu. Khi giá kiểm tra lại mức thấp trước đây, cảm tính “gấu” lại nhanh chóng được xây dựng, và “đám đông” nhắc nhở một cách ngạo mạn rằng thị trường gấu vẫn còn ở thế rất vững chắc. Tuy nhiên, một số dấu hiệu tích cực xuất hiện cho những người đang tìm kiếm: khối lượng trong sóng 2 thấp hơn trong sóng 1, giá thường không thoái lui quá mức Fibonacci 0.618 (xem phần Fibonacci) của sóng 1, và giá sẽ rơi trong một hình mẫu ba sóng. Sóng B: Giá đảo ngược cao hơn, mà nhiều người xem như là một sự trở lại của thị trường bò. Những người quen thuộc với phân tích kỹ thuật cổ điển có thể xem đỉnh là vai phải của mẫu hình vai – đầu – vai đảo ngược. Khối lượng trong sóng B có thể thấp hơn so với sóng A. Vào thời điểm này, các tin tức cơ bản có thể không tích cực, nhưng rất có thể chúng chưa chuyển sang tiêu cực.
Sóng 3: Sóng 3 thường là sóng lớn nhất và mạnh nhất trong một xu hướng (mặc dù một số nghiên cứu cho thấy rằng trong các thị trường hàng hóa, sóng 5 là lớn nhất). Các tin tức bây giờ là tích cực và các nhà phân tích cơ bản bắt đầu nâng cao vị thế mua. Giá tăng một cách nhanh chóng, các điều chỉnh có thời gian ngắn và nông. Bất cứ ai tìm kiếm cơ hội trong việc “thoái lui” của giá có khả năng sẽ lỡ tàu. Khi sóng 3 bắt đầu, tin tức có lẽ vẫn còn xu hướng gấu, và hầu hết người chơi trên thị trường vẫn còn tiêu cực. Nhưng đến điểm giữa của sóng 3, “đám đông” sẽ thường xuyên tham gia vào xu hướng tăng giá mới. Sóng 3 thường mở rộng sóng 1 theo tỷ lệ Fibonacci 1.618 – 2.618 Sóng C: Giá di chuyển một cách bốc đồng thấp hơn trong sóng 5. Khối lượng tăng lên, và đến chân thứ ba của sóng C, hầu như tất cả mọi người nhận ra rằng một thị trường gấu đã vững vàng. Sóng C thường ít nhất là lớn như sóng A và thường mở rộng đến mức Fibonacci 1.618 của sóng A hoặc vượt ra ngoài.
Sóng 4: sóng 4 thường điều chỉnh một cách rõ ràng. Giá cả có thể quanh co nghiêng một thời gian dài, và sóng 4 thường thoái lui ít hơn mức Fibonacci 0.382 của sóng 3. Khối lượng thấp hơn so với sóng 3. Đây là một nơi tốt để vào một vị thế mua nếu bạn hiểu được tiềm năng phía trước của sóng 5. Tuy nhiên, sóng 4 là thường làm nản lòng các nhà đầu tư vì sự phát triển kém của chúng trong xu thế lớn hơn.
sóng 5: Sóng 5 là chân cuối cùng trong sự chỉ đạo của xu hướng vận động. Tin tức là hầu như tích cực và tất cả mọi người cho rằng giá sẽ tăng. Thật không may, đây là lúc nhiều nhà đầu tư hạng xoàng cuối cùng mua vào, ngay trước đỉnh. Khối lượng trong sóng 5 thường thấp hơn trong sóng 3, và nhiều chỉ số đã bắt đầu cho thấy sự phân kỳ (giá đạt đến một mức cao mới nhưng các chỉ số không đạt được một đỉnh cao mới). Giai đoạn cuối của một thị trường bò chính, những chú gấu có thể rất hả hê.
Sự mở rộng các sóng vận động

Theo Elliott, hầu hết các xung đều có phần mở rộng. Đây là các xung kéo dài với các phân chia được phóng đại lên. Phần lớn các sóng xung có chứa một phần mở rộng trong một (và chỉ một) trong ba sóng con vận động của chúng. Hình dưới đây sẽ minh họa cụ thể luận điểm này:

su mo rong song van dong trong mo hinh song elliott
Sự mở rộng sóng vận động trong mô hình sóng Elliott

Trong thực tế, các tiện ích mở rộng thường chỉ xuất hiện trong một sóng vận động con và nó cung cấp cho ta những thông tin hưu ích về độ dài dự kiện của các sóng sắp tới. Chẳng hạn, nếu sóng 1 và sóng 3 có độ dài bằng nhau thì sóng thứ năm rất có thể sẽ là sóng mở rộng. Ngược lại, nếu sóng 3 là sóng mở rộng thì sóng 5 sẽ có quy mô tương tự sóng 1.

Trong một số trường hợp, các phân vùng của một sóng mở rộng có cùng biên độ và thời lượng như bốn sóng khác của xung lớn hơn. Qua đó tạo ra một chuỗi 9 sóng có kích thước tương tự nhau thay vì chuỗi 5 sóng như thường lệ.

Sự cắt giảm sóng 5

Đây là tình huống mà sóng 5 của mô hình sóng Elliott không vượt được quá đỉnh của sóng 3. Trường hợp này chỉ được xác nhận khi sóng thứ 5 có chứa 5 sóng con cần thiết.

Lưu ý rằng, việc cắt giảm thường xảy ra sau một con sóng 3 rất mạnh mẽ.

4. Các mô hình chính

4.1 Mô hình Zigzags 5-3-5

Trong thị trường giá tăng, đây là một đường ngoằn ngoèo có mô hình sóng Elliott điều chỉnh ABC với chuỗi sóng con 5-3-5, trong đó đỉnh của sóng B thấp hơn đáng kể so với điểm bắt đầu của sóng A.

mo hinh zigzags 5-3-5 trong xu huong gia tang
Mô hình Zigzags 5-3-5 trong trend giá tăng

Trong thị trường giá giảm, đường ngoằn ngoèo diễn ra theo hướng ngược lại với chuỗi sóng con 5-3-5 có đáy của sóng B cao hơn đáng kể so với điểm bắt đầu của sóng A.

mo hinh zigzags 5-3-5 trong xu huong gia giam
Mô hình Zigzags 5-3-5 trong trend giá giảm

Thỉnh thoảng đường ngoằn ngoèo lặp lại 2 lần (nhiều nhất là 3 lần). Đây được gọi là zigzags kép hoặc zigzags ba. Mỗi zigzags được phân tách bởi 3 sóng con xen kẽ.

mo hinh zigzags 5-3-5 kep
Mô hình Zigzags 5-3-5 kép
4.2 Mô hình Flats 3-3-5

Trong thị trường giá tăng, đây là một đường ngoằn ngoèo có mô hình sóng Elliott điều chỉnh ABC với chuỗi sóng con 3-3-5, trong đó đỉnh của sóng B ngang bằng so với điểm bắt đầu của sóng A. Sự khác biệt của mô hình này so với mô hình zigzag 5-3-5 tới từ sự hình thành của sóng A. Ngay từ đầu, sóng A đã không đủ lực hướng xuống để phát triển thành 5 sóng đầy đủ như mô hình zigzags.

mo hinh flat 3-3-5 trong xu huong gi tang
Mô hình Flat 3-3-5 trong trend giá tăng

Trong thị trường giá giảm, mô hình diễn ra theo hướng ngược lại.

mo hinh flat 3-3-5 trong xu huong gi giam

Mô hình Flat 3-3-5 trong trend giá giảm

Mô hình flats tham gia vào các giai đoạn liên quan tới một xu hướng lớn mạnh mẽ hơn so với zigzags, và do đó hầu như luôn luôn đi trước hoặc theo cùng các phần mở rộng. Xu hướng cơ bản càng mạnh thì mô hình flats càng có xu hướng. Trong các xung lực thì sóng 4 thường xuyên xuất hiện mô hình flats hơn so với sóng 2.

4.3 Mô hình tam giác chéo (Diagonal Triangles)

Tam giác chéo là một mô hình dạng sóng vận động, nhưng không phải là một xung trong xu hướng chỉnh bởi vì nó có một hoặc hai đặc điểm sửa chữa. Cụ thể:

  • Mô hình diagonal triangles bao gồm 5 sóng.
  • Sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất trong mô hình.
  • Sóng 4 và sóng 1 chéo nhau (tức là sóng 4 luôn luôn di chuyển vào lãnh thổ giá của sóng 1).
  • Sóng 4 không được vượt qua điểm khởi đầu của sóng 3.
  • Sóng 5 luôn vượt qua điểm kết thúc của sóng 3.

Mô hình tam giác chéo được chia thành 2 loại: Ending Diagonal TriangleLeading Diagonal Triangle.

a) Ending Diagonal Triangle

Ending Diagonal Triangle là một loại sóng đặc biệt xảy ra chủ yếu ở vị trí sóng thứ 5 tại thời điểm mà trước đó nó di chuyển quá nhanh. Cũng có một số trường hợp loại sóng này xuất hiện tại sóng C của dạng thức ABC. Các sóng con thành phần có dạng 3-3-3-3-3. Trong hầu hết mọi trường hợp, chúng được tìm thấy tại các điểm kết thúc của các mô hình lớn hơn cho thấy sự cạn kiệt của các mô hình đó.

b) Leading Diagonal Triangle

mo hinh leading diagonal triangle
Leading Diagonal Triangle 5-3-5-3-5

Leading Diagonal Triangle là một biến thể của mô hình Ending Diagonal Triangle. Nó thi thoảng xuất hiện ở vị trí sóng 1 hoặc ở vị trí sóng A của zigzags. Các đặc điểm của nó gần tương tự như mô hình Ending Diagonal Triangle, chỉ khác là các sóng thành phần của nó có dạng thức 5-3-5-3-5. Cấu trúc của sự hình thành dạng thức này phù hợp với tinh thần của “nguyên lý sóng”: trong đó các phân vùng 5 sóng đi theo hướng của xu hướng lớn hơn và truyền đạt một thông điệp rằng xu hướng vẫn sẽ “tiếp tục”, còn các phân vùng 3 sóng điều chỉnh chống lại xu hướng với hàm ý muốn “chấm dứt” xu hướng.

4.4 Các mô hình tam giác (Triangles)

Mô hình tam giác (Triangles) xuất hiện để phản ánh sự cân bằng của các nguồn lực giữa bên mua và bên bán. Qua đó tạo ra một xu hướng không rõ ràng với khối lượng giao dịch và biên độ biến động giá giảm dần. Hình tam giác chứa 5 sóng chồng lên nhau được dán nhãn a-b-c-d-e và được chia nhỏ thành dạng thức 3-3-3-3-3. Một tam giác được phác họa bằng cách nối các điểm kết thúc của sóng a với sóng c và sóng b với sóng d. Sóng e có thể hoàn tác hoặc vượt quá đường a-c.

mo hinh triangles gom 2 loai: contracting triangles va expanding triangles

Có 2 loại tam giác: Contracting TrianglesExpanding Triangles.

Contracting Triangles được chia thành 3 loại: Symmetrical (đối xứng), Descending (giảm dần) và Ascending (tăng dần).

Expanding Triangles hay còn gọi với cái tên khác là Reverse Symmetrical Triangles (tam giác đối xứng ngược).

Trong các mô hình trên chúng ta cần hết sức chú ý tới xu hướng trước đó của nó. Đây là yếu tố rất quan trọng để xác định chính xác mô hình cũng như xu hướng tiếp theo của thị trường khi kết thúc mô hình.

4.5 Sự kết hợp các sóng điều chỉnh

Trong vùng giá sideway, Elliott gọi sự kết hợp của các mẫu điều chỉnh là “double threes” và “tripple threes”. Đây là sự kết hợp của các mô hình sóng điều chỉnh đơn giản hơn như là zigzags, flatstriangles.

mo hinh song elliott ket hop double threes flat va tripple threes flat
Double threes flat và Tripple threes flat
mo hinh song elliott ket hop double threes flat - triangle
Double threes flat – triangle
mo hinh song elliott ket hop double threes flat - zigzag
Double threes flat-zigzag

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *